BGH Trường TCPH Đà Nẵng tưởng niệm húy nhật cố Trưởng lão HT. Thích Tôn Thắng

Sáng ngày 04/05/2023 (nhằm ngày 15/03 Quý Mão) tại chùa Phổ Đà (số 340 Phan Châu Trinh phường Bình Thuận quận Hải Châu Tp. Đà Nẵng), Ban Giám hiệu Trường TCPH Đà Nẵng cùng Chư tôn đức Giáo thọ, Tăng Ni sinh viên, học viên Cư sĩ đã đã thành kính dâng hương tưởng niệm húy nhật lần thứ 47 cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Tôn Thắng – vị danh tăng Việt Nam thế kỷ 20 – khai sơn Tổ đình Diệu Pháp; Chùa Phổ Đà Tp. Đà Nẵng và Chùa Tịnh Độ Tp. Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam.

Cố Hòa thượng Thích Tôn Thắng, pháp danh Trừng Kệ, pháp tự Như Nhu, thế danh là Dương Văn Minh, sinh ngày 29 tháng 2 năm Kỷ Sửu (1889) tại làng Hà My, tổng Bích La, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ ông Dương Văn Hiếu và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Tiện. Được sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học và Phật học chuẩn mực, lại được nuôi dạy theo khuôn mẫu nên buổi thiếu thời Ngài đã sớm được tiếp cận với kinh sách Thánh hiền.

Năm Giáp Thìn (1904), lúc lên 16 tuổi, Ngài được phép mẫu thân đến cầu xuất gia với Hòa thượng Tâm Truyền, Tăng Cang chùa Báo Quốc và được Hòa thượng ban pháp danh là Trừng Kệ. Năm Bính Ngọ (1906), Ngài được Bổn sư cho thọ Sa di giới và được ban pháp tự là Như Nhu.

Năm Quý Hợi (1923), Ngài 34 tuổi, mới thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn chùa Phước Quang, tỉnh Quảng Ngãi do Hòa thượng Hoằng Tịnh làm Đàn đầu truyền giới. Năm Giáp Tý (1924), Ngài đến cầu pháp với Hòa thượng Phước Trí chùa Tam Thai, núi Ngũ Hành, Quảng Nam được Hòa thượng phú pháp với Pháp hiệu là Tôn Thắng. Năm Canh Ngọ (1930), Ngài đảm đương trụ trì chùa Phổ Thiên, đồng thời được Giáo hội Tăng già Đà Nẵng cung thỉnh giữ chức vụ Kiểm Tăng. Năm Nhâm Thân (1932), hưởng ứng phong trào chấn hưng Phật giáo nổi lên ở khắp ba miền đất nước, Ngài đứng ra sáng lập Đà Thành Phật Học Hội và cung thỉnh Hòa thượng Bích Liên làm Hội trưởng. Trụ sở đặt tại chùa Phổ Thiên và cho xuất bản tạp chí Tam Bảo làm cơ quan ngôn luận chính thức của Hội trong việc hoằng dương chánh pháp.

Năm Ất Hợi (1935), Ngài vào khai sơn chùa Tịnh Độ tại thị xã Tam Kỳ. Năm Bính Tý (1936), để phát triển việc hoằng hóa Ni giới, cũng tại làng Bình Thuận – Đà Nẵng, Ngài lại khai sơn chùa Diệu Pháp để làm Phật học Ni viện.

Năm Bính Tuất (1946) ý thức về tiền đồ Phật giáo mai sau, Ngài quyết định hiến cúng chùa Phổ Thiên (sau là chùa Phổ Đà) cho Giáo hội để mở Phật học viện có tầm vóc quy mô hơn. Đó chính là chi nhánh Phật học viện Trung phần ở Trung Trung bộ. Năm Giáp Thìn (1964), Ngài được tiến cử làm Chứng minh Đạo sư Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thị xã Đà Nẵng. Năm Bính Ngọ (1966), Ngài được tiến cử vào Hội đồng Trưởng lão Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Năm Canh Tuất (1970), Ngài làm Chánh chủ Đàn tại Đại giới đàn Vĩnh Gia, được tổ chức tại chùa Phổ Đà – Đà Nẵng (chùa Phổ Thiên trước đây).

Năm Bính Thìn (1976) Ngài được thỉnh làm thành viên Hội đồng Giáo phẩm Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Ngày 16 tháng 3 năm Bính Thìn (1976), Ngài an nhiên thị tịch, trụ thế 87 năm, giới lạp 53 tuổi hạ.

Thiết nghĩ, cánh nhạn bay qua sông, không còn vết tích nhưng người ở lại vẫn hoài niệm bậc Tôn sư đã có nhiều đóng góp cho Phật giáo Đà Thành. Giáo dục Phật giáo Đà Nẵng khởi sắc từ thuở Ngài sinh tiền, từ đó bao lớp Tăng Ni kế tục giữ gìn cương kỷ chốn thiền môn, hành hóa các phương giữ gìn mối Đạo. Đó cũng là chí nguyện của Tôn sư mà tông môn pháp phái Phổ Thiên kế thừa và gìn giữ, ngõ hầu báo ân Thầy Tổ truyền thừa.

Sau đây là những hình ảnh ghi nhận được:

Bài liên quan

Để lại phản hồi

Mục đánh dấu * không được để trống *